Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Trung Đông, Nga với "cuộc chiến dầu" ở châu Á



Một nhà máy lọc dầu tại Quảng Đông, Trung Quốc. Các nước sản xuất dầu Trung Đông lên kế hoạch tăng lượng dự trữ dầu thô tại châu Á để củng cố thị phần tại khu vực này. Ảnh: Reuters

Nhu cầu dầu của châu Á được ví như “người khát nước”. Các nước sản xuất dầu Trung Đông, vì vậy đã lên kế hoạch tăng lượng dự trữ dầu thô tại châu Á để củng cố thị phần tại khu vực này.

Tranh giành thị phần châu Á

Trong quá khứ, các nước Âu - Mỹ luôn là trung tâm của nhu cầu dầu mỏ. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước sản xuất dầu Trung Đông bị buộc tranh giành thị trường châu Á với Nga.

Việc Nga tăng nguồn cung cấp dầu tại châu Á đã nhắc nhở các nước sản xuất Trung Đông đẩy mạnh kế hoạch dự trữ dầu tại châu Á. Hiện, Nga đang thông qua đường ống dẫn dầu từ Đông Siberia đến bờ biển Thái Bình Dương (ESPO) cung cấp dầu giá rẻ cho Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước châu Á khác, thay thế các nước sản xuất dầu Trung Đông.

Nhà phân tích của Cơ quan Phân tích an ninh năng lượng Vivek Mathur, cho biết: “Hiện nay, lượng cung cấp dầu của ESPO sang các nước châu Á còn thấp, trong tương lai gần có thể không đặt ra mối đe dọa, nhưng một khi ESPO tăng nguồn cung dầu, các nước sản xuất dầu Trung Đông có thể phải tiến vào cuộc chiến với Nga để bảo vệ thị phần”.

Tháng 12-2009, Bộ trưởng dầu mỏ Ả Rập Saudi, Ali al-Naimi cho biết Ả Rập Saudi đã chấp nhận đề nghị thành lập "kho dự trữ dầu thô vài triệu thùng” tại Nhật Bản, trong đó nêu bật nhu cầu của Trung Quốc và châu Á, cũng như tầm quan trọng ngày càng gia tăng của các nước này. Kế hoạch này đang trong giai đoạn thảo luận.

Giám đốc Cơ quan tư vấn năng lượng châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Al Troner, nói: “Nhật Bản sẽ là bàn đạp để Ả Rập Saudi thâm nhập vào thị trường Trung Quốc. Ả Rập Saudi có thể sử dụng tàu chở dầu nhỏ hơn cung cấp dầu thô cho nhà máy lọc dầu nhỏ tại khu vực ven biển Trung Quốc. Kho dự trữ dầu trên sẽ giúp trung chuyển lô hàng lớn 200 triệu thùng từ Ả Rập Saudi đến Đông Á, giao đến tay các nhà máy lọc dầu nhỏ ven biển”.

Giám đốc công ty dịch vụ thông tin thị trường PFC Energy, David Kirsch, bổ sung: “Trong trường hợp xuất hiện sự gián đoạn về nguồn cung cấp dầu, Ả Rập Saudi sẽ mang lượng dầu dự trữ này xuất cho Nhật Bản hoặc Trung Quốc”.

Tuy nhiên, Ả Rập Saudi lạc hậu hơn Abu Dhabi trong việc giành thị phần tại khu vực Đông Á. Đầu năm ngoái, một công ty dầu mỏ của Abu Dhabi đã thành lập kho dự trữ dầu thô tại miền nam Nhật Bản, nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới. Đồng thời, Hàn Quốc cũng đã đạt thỏa thuận tương tự với một số công ty dầu của nước ngoài, trong đó có một công ty của Pháp.

Nhắm đến Đông Nam Á và Trung Quốc

Những người trong ngành công nghiệp dầu mỏ cho biết ngoài Bắc Á, các nước sản xuất dầu Trung Đông cũng đang xem xét khả năng dự trữ dầu thô tại Nam Á và Đông Nam Á. Qatar có ý định dự trữ dầu thô tại một hòn đảo nhỏ của Indonesia, cách Singapore 45 phút di chuyển bằng đường biển.

Một nguồn tin giấu tên cho biết Singapore đang xây dựng cơ sở dự trữ dầu dưới lòng đất, thu hút các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông, bao gồm Ả Rập Saudi. Ả Rập Saudi cũng xem xét việc dự trữ dầu thô tại Trung Quốc.

Trong năm 2007, nước xuất khẩu dầu lớn thứ năm thế giới là Iran đã ký một biên bản ghi nhớ với Trung Quốc về khả năng thiết lập kho dự trữ chiến lược dầu thô tại nước này. Chính phủ Iran sẽ xúc tiến thành lập kho dự trữ dầu tại Trung Quốc trong năm nay. Một quan chức của Công ty dầu quốc gia Iran (NIOC) cho biết: “Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của chúng tôi trong năm”.

Trong khi đó, Ấn Độ cũng cùng các nước sản xuất dầu Trung Đông thảo luận việc xây dựng cơ sở dự trữ dầu để tăng cường an ninh năng lượng.

Hiện nay, Nga vận chuyển dầu thô đến châu Á khoảng 300.000 thùng/ngày và kế hoạch trước khi kết thúc năm sẽ tăng lên 600.000 thùng/ngày. Mặc dù khối lượng xuất khẩu không lớn so với các nước sản xuất dầu Trung Đông nhưng Nga đang đe dọa thị phần của các nước này.

Sản xuất toàn cầu tăng trưởng trở lại



Sau suy thoái kinh tế, sản xuất toàn cầu đang tăng trưởng trở lại, với sự dẫn đầu của Trung Quốc. Ảnh: Reuters

Các nhà máy từ Trung Quốc đến Mỹ đã tăng tốc trong tháng 3, cho thấy thương mại quốc tế đã bật dậy, góp phần vào công cuộc phục hồi kinh tế toàn cầu.

Các báo cáo cho thấy sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng tháng thứ 13 liên tiếp còn các nhà máy tại Mỹ mở rộng sản xuất nhiều nhất kể từ tháng 7-2004. Chỉ số cảm nhận môi trường kinh doanh (BSI) tại Nhật Bản tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2008, trong khi các nhà máy ở Anh và khu vực đồng tiền chung châu Âu đều tăng sản xuất.

Tăng trưởng kinh tế tăng mạnh ở Trung Quốc đang kéo nền kinh tế toàn cầu ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong hơn sáu thập kỷ qua và mang lợi cho nhiều công ty trên toàn thế giới. Cổ phiếu trên toàn cầu đang trên đà tăng giá sau khi các số liệu về sản xuất cho thấy sự phục hồi là vững chắc.

Theo tập đoàn Li & Fung Hồng Kông – nhà môi giới thương mại hàng đầu kết nối các nhà sản xuất Trung Quốc với các công ty nhập khẩu Mỹ - chỉ số các nhà quản lý mua hàng (PMI) tháng 3 của Trung Quốc đã tăng lên 55,1 điểm từ mức 52 điểm trong tháng trước đó. Chỉ số PMI lớn hơn 50 điểm là dấu hiệu của sự gia tăng sản xuất.

Tại Mỹ, chỉ số của Viện quản lý cung ứng ISM đã tăng lên 59,6 điểm, từ mức 56,5 điểm trong tháng 2 và vượt quá dự báo lạc quan nhất từ một cuộc khảo sát của Bloomberg News. Chỉ số Tankan tại Nhật Bản đã cải thiện ở mức -14 trong tháng 3 từ mức -25 trong tháng 12, trong khi đó các nhà máy của châu Âu đã mở rộng với tốc độ nhanh nhất trong hơn ba năm.

Chỉ số chứng khoán MSCI Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,9% lên 126,25 vào ngày 01-04, trong khi chỉ số Standard & Poor's 500 tăng 0,7% lên 1,177.96 vào lúc 12 giờ 37 phút chiều hôm qua 3-4 tại New York.

Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 3,9% trong năm nay sau khi sụt giảm 0,8% trong năm 2009 với Trung Quốc tăng 10%, gần gấp năm lần so với tốc độ dự kiến của Mỹ.

Tại Trung Quốc, sự tăng tốc kinh tế có thể cho phép chính quyền xem xét tăng giá đồng nhân dân tệ lần đầu tiên kể từ giữa năm 2008 và tăng lãi suất.

Sản xuất tại Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, mở rộng với tốc độ nhanh nhất trong 14 năm qua. Còn tại Mỹ, chỉ số ISM của các đơn hàng xuất khẩu đã tăng lên 61,5 trong tháng 3, mức cao nhất kể từ mức 56,6 vào tháng 09-1989.

Triển vọng của các nền kinh tế mới nổi



"Các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc, Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc… sẽ tiếp tục thịnh vượng trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ chìm vào cuộc khủng hoảng nợ" - một Tạp chí tài chính của Mỹ ngày 7/4 nhận định.
Theo tờ báo, các nhà đầu tư đổ về thị trường nợ của các nền kinh tế mới nổi chỉ để tìm nơi trú ẩn trong thời điểm khủng hoảng kinh tế làm tê liệt thị trường ở các nước phát triển. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo các nền kinh tế đang phát triển sẽ tăng trưởng 6% trong năm 2010 sau khi chỉ tăng 2,1% năm 2009, trong khi các nền kinh tế phát triển chỉ tăng 2,1% năm 2010 và giảm 3,2% năm 2009.
Trái phiếu của các thị trường mới nổi đã đạt kỷ lục trong quý 1/2010 khi bắt đầu đợt phát hành mới và khoảng cách lãi suất với trái phiếu kho bạc Mỹ đã thu hẹp tới mức thấp nhất kể từ năm 2008. Cho đến nay, trái phiếu của các thị trường mới nổi đã bán được tới kỷ lục 157 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm 2009. Trong khi đó, tổng số tiền Mỹ phải thanh toán lãi nợ của chính phủ liên bang có thể lên tới 10% tổng thu của liên bang vào năm 2013. Xu hướng các thị trường mới nổi mua nợ của Mỹ cũng như hiện tượng thể chế mua trái phiếu kho bạc Mỹ giảm nhu cầu mua các trái phiếu này đã làm dấy lên những suy đoán rằng, sắp tới, các nước đang phát triển trở thành thiên đường an toàn cho các nhà đầu tư trái phiếu. Nhưng kịch bản khả dĩ nhất là sự đảo ngược của các dòng vốn sẽ tiếp tục cứu các trái phiếu kho bạc Mỹ trong thời gian dài nữa. Trung Quốc hiện là nước giữ lớn nhất số trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm từ 894,8 tỷ USD trong tháng 12/2009 xuống 889 tỷ USD trong tháng 1/2010. Nhật Bản - nước giữ trái phiếu Mỹ lớn thứ 2 đã giảm 300 triệu USD giá trị trái phiếu Mỹ trong tháng 12 xuống còn 765,4 tỷ USD trong tháng 1/2010.

Văn phòng quản lý và ngân sách của Quốc hội Mỹ dự báo thâm hụt ngân sách của chính quyền Obamaa trong năm tài chính 2011 có thể tới 8,53 ngàn tỷ USD, mức cao nhất trong 10 năm qua. Văn phòng Kiểm toán của Quốc hội Mỹ thậm chí dự đoán mức thâm hụt ngân sách này còn lên tới 9,75 ngàn tỷ USD khi bước sang thập kỷ tới. Mỹ phải trả ít nhất 3,5 ngàn tỷ USD nợ ngắn hạn đến kỳ thanh toán trong 18 tháng tới, tương đương với 30% GDP

Thế giới thay đổi như thế nào sau khủng hoảng?



Sau khi khủng hoảng tài chính đi qua đã để lại cho thế giới những biến đổi lớn, đặc biệt sự thay đổi này càng rõ nét khi năm 2010 đang đến gần.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện đã đem đến cho thế giới 10 thay đổi:

Trước tiên, ngành tài chính vẫn chưa thể ổn định, trong tương lai nhiệm vụ hàng đầu của ngành tiền tệ thế giới là cứu chính mình, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển. Hiện tại khu vực tài chính toàn cầu vẫn còn tồn tại rất nhiều tài sản xấu.

Thứ hai, ngành tài chính cần phải tăng cường cơ chế giám sát tổng thể. Đặc biệt như cơ cấu giám sát tài chính của Mỹ và các nước châu Âu đã được thay đổi một cách toàn diện.

Thứ ba, trong bối cảnh hiện tại, quy mô tài chính toàn cầu bị co hẹp là điều khó tránh khỏi, bởi sau khi khủng hoảng tài chính đi qua, mức độ suy thoái của các nền kinh tế còn mạnh hơn so với giai đoạn của đại suy thoái. Mặc dù hiện tại nền kinh tế toàn cầu đã có những dấu hiệu tăng trưởng nhưng mức phục hồi vẫn còn rất yếu.

Thứ tư, trong bối cảnh thị trường tài chính đang có những thay đổi đáng kể thì thị trường cổ phiếu cũng có những giảm sút nhất định, sự thay đổi trong cơ cấu của thị trường cổ phiếu, trái phiếu đang khiến cho quy mô kho dự trữ ngoại hối các nước cũng thay đổi, các nguồn vốn phát sinh bị co rút lại.

Thứ năm, cơ cấu tài chính cũng bắt đầu xuất hiện những điều chỉnh và thay đổi đồng bộ, người dân sửa chữa những bản cân đối tài sản của mình, ngành ngân hàng giảm bớt các dịch vụ, đặc biệt là nhu cầu giao dịch tài chính cũng giảm.

Thứ sáu, mức lợi nhuận của ngành tài chính toàn cầu cũng thay đổi và đi theo chiều hướng giảm xuống.

Thứ bảy, chính là sự suy giảm của nguồn vốn toàn cầu, trong đó là nguồn vốn tại các lĩnh vực tư nhân giảm đáng kể.

Thứ tám, các tổ chức tài chính khổng lồ bắt đầu bị “thu hẹp”. Ví dụ như quy mô tài sản của Citigroup và Deutsche Bank giảm đáng kể khi khủng hoảng tài chính đi qua.

Thứ chín, ngành tài chính toàn cầu thay đổi theo cấu trúc và khu vực địa lý. Đây cũng chính lý do tại sao một số chuyên gia phân tích lại cho rằng trung tâm của nền tài chính toàn cầu bắt đầu hướng sang phía Đông. Trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính, cơ cấu kinh tế toàn cầu đã có những thay đổi và thị trường mới nổi là thể chế kinh tế đóng vai trò quan trọng hiện nay.

Thứ mười, tất cả chúng ta đều công nhận rằng khủng hoảng tài chính lần này phát sinh cùng với thời điểm của toàn cầu hóa, vì vậy hiện tại thế giới cần một một cơ quan quản trị tài chính toàn cầu. Điều đó cũng lý giải vì sao khuôn khổ quản trị tài chính ổn định và tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu đang được xây dựng lại.

Ngẫm về suy thoái kinh tế thế giới



picture
Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.

Đó là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.

VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.

Năm 2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay. Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn chặn một cách ngoạn mục.

Cách đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.

Tuy nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.

Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.

Mặc dù vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy thoái này đã không quá khủng khiếp.

Nhưng điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn.

Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.

Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.

Giá nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công, chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.

Nếu bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế giàu có.

Sự khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.

Tỷ lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.

Do vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn. Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia tăng.

Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài.

Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Một số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài hạn cũng sẽ giảm bớt.

Tuy nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.

Đó là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích thích tăng trưởng.

Tệ hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu.
Tại Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.

Có thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương...

Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.

Thị trường dầu Iran: Các nước nhảy ra, Trung Quốc nhảy vào



Trung Quốc sẽ thực sự ủng hộ lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran? Ảnh: VOA

Trong khi các nhà máy lọc dầu lớn của thế giới lo sợ vi phạm lệnh trừng phạt của Liên hiệp quốc (LHQ) đối với Iran, đã dần dần ngưng bán các sản phẩm dầu cho Iran, thì Trung Quốc nắm bắt khoảng trống của thị trường, bán dầu thành phẩm cho Iran.

Tuy nhiên, các chuyên gia không ngạc nhiên về việc này và cho rằng Trung Quốc vẫn sẽ là trở ngại lớn nhất để thông qua lệnh trừng phạt Iran.

Theo Reuters AP ngày 14-4, hiện hai công ty kinh doanh dầu lớn của Trung Quốc đang dự định bán các sản phẩm dầu cho Iran.

Reuters dẫn nguồn tin trong ngành công nghiệp dầu nói rằng công ty kinh doanh dầu quốc doanh của Trung Quốc (Chinaoil) đã bán cho Iran 600.000 thùng dầu với tổng trị giá 55 triệu đô la Mỹ.

Reuters cho biết Chinaoil lần đầu tiên bán trực tiếp các sản phẩm dầu cho Iran. Trước đó, công ty này luôn thông qua bên thứ ba để bán sản phẩm dầu cho Iran.

Ngoài ra, ReutersAP còn cho biết một công ty lọc dầu lớn khác của Trung Quốc là Unipec đang có kế hoạch bán xăng cho Iran. Hoạt động này sẽ nối lại việc bán các sản phẩm dầu của công ty này cho Iran sau gần 6 năm gián đoạn.

Reuters trích dẫn nguồn tin trong giới thương mại cho biết Unipec vào ngày 13-4 đã thiết lập một tàu chở hàng tại Singapore, dự định chở 250.000 thùng xăng đến Iran.

Trong khi Mỹ và châu Âu thuyết phục Trung Quốc hỗ trợ lệnh trừng phạt của LHQ đối với Iran, hai công ty kinh doanh là Glencore và Vitol cũng như các công ty dầu Shell Oil và Luke đã quyết định ngưng bán xăng cho Iran.

Chuyên gia về quan hệ Trung Quốc và Iran, giáo sư quan hệ quốc tế Đại học Georgia Tech, John Garver, nói việc bán xăng cho Iran không vi phạm lệnh trừng phạt đối với Iran sau khi nghị quyết của LHQ được thông qua. Ông nói: “Lệnh trừng phạt đối với Iran chỉ nhắm đến công ty và cá nhân có liên quan đến chương trình hạt nhân”.

John Garver cho rằng thông tin các công ty Trung Quốc phục hồi việc bán xăng trực tiếp cho Iran cho thấy Trung Quốc vẫn còn miễn cưỡng trong việc ủng hộ Mỹ và châu Âu đề xuất hình thức xử phạt đối với Iran. Ông nói: “Thái độ của Trung Quốc là trừng phạt không giúp giải quyết vấn đề mà sẽ làm tăng thêm sự căng thẳng, do đó, giải quyết vấn đề sẽ khó khăn hơn. Trung Quốc cho rằng không nên áp dụng lệnh trừng phạt mà Mỹ và Iran nên thỏa hiệp với nhau”.

Giáo sư John Garver nói Mỹ và châu Âu không thể mong đợi xa hơn khi giữa Trung Quốc và Iran tồn tại mối quan hệ đặc biệt trong vấn đề năng lượng, kinh tế và thậm chí cả về chiến lược.

Mặc dù ngày càng có nhiều nhà máy lọc dầu và thương nhân ngừng bán các sản phẩm dầu cho Iran, Iran vẫn tiếp tục mua số lượng lớn nhiên liệu từ thị trường quốc tế. Reuters cho biết các công ty bán xăng cho Iran bao gồm công ty dầu khí quốc gia Malaysia (Petronas) và Tổng công ty dầu của Pháp (Total)…

Một thương nhân nói với Reuters, miễn mang lại lợi ích kinh tế, Iran luôn là thị trường quốc tế mà người bán dầu tìm đến.

Các nước tìm giải pháp ổn định giá dầu mỏ



Dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ thế giới năm 2010 sẽ lên tới 86,6 triệu thùng/ngày. So với năm 2009, mức tăng này lớn hơn tới 1,6 triệu thùng/ngày, tương đương 1,8%. Trong khi đó, lo ngại về nguy cơ những vụ khủng bố tiếp theo ở Nga, đang đe dọa gây gián đoạn một nguồn cung quan trọng đối với thị trường dầu mỏ thế giới, đã làm giá mặt hàng này tăng mạnh. Việc ổn định giá dầu mỏ thế giới đang cần có lời giải.

Trong tháng 3 vừa qua, lần thứ hai trong vòng một tháng, Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA) đã điều chỉnh tăng mức dự báo nhu cầu năng lượng thế giới năm 2010, sau khi các số liệu mới nhất được công bố cho thấy, mức tiêu thụ năng lượng khu vực châu Á tiếp tục tăng hơn dự kiến. Theo đó, nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ thế giới năm 2010 sẽ tăng thêm 70 nghìn thùng lên 86,6 triệu thùng/ngày. Mức tăng này lớn hơn tới 1,6 triệu thùng/ngày, tương đương 1,8% so với con số năm 2009, đồng thời vượt mức tiêu thụ 86,2 triệu thùng/ngày của năm 2008. Theo IEA, nhóm các nước nằm ngoài Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vẫn là những nước dẫn đầu về sức phục hồi tiêu thụ năng lượng toàn cầu. Trong đó, nhu cầu từ nhóm các nước không thuộc OECD tại khu vực châu Á sẽ chiếm tới hơn một nửa nhu cầu dầu mỏ toàn cầu. IEA dự báo, năm 2010, nhu cầu dầu mỏ của các nước châu Á sẽ đạt mức 26,7 triệu thùng/ngày, nhu cầu dầu mỏ ở Trung Ðông đạt 7,6 triệu thùng/ngày, tăng so với mức 7,2 triệu thùng/ngày năm 2009.

Theo nhận định của IEA, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc sẽ chiếm khoảng một phần ba tổng nhu cầu dầu mỏ toàn thế giới năm 2010, đủ để bù đắp lại phần nào sự suy giảm nhu cầu của các nền kinh tế phát triển, nhất là các nước phương Tây. IEA đánh giá rằng, mức tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc có thể còn tăng thêm khi chính phủ nước này dự định sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nếu như áp lực lạm phát trong nước dịu đi. Theo đó, IEA dự báo nhu cầu dầu mỏ Trung Quốc năm 2010 sẽ tăng thêm 130 nghìn thùng lên chín triệu thùng/ngày, tăng 6,2% so với năm 2009.

Nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ các nước không thuộc nhóm OECD trong năm 2010 dự đoán sẽ đạt khoảng 41,2 triệu thùng/ngày, tăng thêm 1,7 triệu thùng hay tăng 4,3% so với mức tiêu thụ năm 2009. Con số này cũng tăng cao hơn 190 nghìn thùng dầu/ngày so với mức dự đoán trước đó mà IEA đã đưa ra. Ngược lại, nhu cầu dầu mỏ năm 2010 của các nước OECD lại giảm 120 nghìn thùng/ngày so với mức dự báo trước đó, xuống còn 45,4 triệu thùng/ngày, giảm 0,3% so với năm 2001.

IEA cũng cắt giảm mức dự báo về sản lượng dầu mỏ mà Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cần cung cấp cho thị trường nhằm cân bằng cung và cầu tiêu thụ thế giới. Theo đó, sản lượng dầu mỏ của OPEC sẽ chỉ đạt khoảng 29,3 triệu thùng/ngày, giảm 100 nghìn thùng so với dự báo mà IEA công bố hồi tháng 2 vừa qua.

Trong khi đó, theo Ủy ban năng lượng quốc gia Trung Quốc (NEA), tổng sản lượng tiêu thụ dầu mỏ trong năm 2010 của Trung Quốc sẽ vẫn được duy trì ở mức hơn 400 triệu tấn. Một trong những nguyên nhân làm nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ ở nước này tăng là do sự gia tăng nhu cầu sử dụng xe hơi và sự hồi phục của ngành công nghiệp vận tải.

Ấn Ðộ, quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và là một trong bốn nước mới nổi thuộc nhóm BRIC cũng là nước tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ ba tại châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Theo thống kê, lượng tiêu thụ dầu mỏ của Ấn Ðộ lên tới hơn hai triệu thùng/ngày. Do sản lượng dầu mỏ của Ấn Ðộ chỉ đạt 700 nghìn thùng/ngày, vì vậy 70% nhu cầu năng lượng của nước này là được nhập khẩu.

Trong bối cảnh nhu cầu dầu mỏ tăng cao trong năm 2010, vụ tiến công khủng bố tại hai nhà ga tàu điện ngầm ở Nga mới đây đã ngay lập tức ảnh hưởng đến tình hình giá cả của một số mặt hàng chiến lược trên thế giới, khiến giá dầu mỏ tăng lên mức cao nhất trong 17 tháng qua. Ngày 31-3, giá dầu mỏ trên thị trường thế giới đã tăng xấp xỉ 84 USD/thùng, gần bằng mức cao điểm hồi tháng 10-2008. Tại thị trường Niu Oóc, giá dầu thô ngọt nhẹ giao trong tháng 5-2010 đã tăng lên mức 83,76 USD/thùng. Giá dầu Brent Biển Bắc giao

dịch trên thị trường Luân Ðôn có cùng thời hạn giao hàng cũng tăng lên mức 82,70 USD/thùng. Việc dầu mỏ thế giới tăng giá một phần là do những lo ngại về nguy cơ phát sinh những vụ khủng bố tiếp theo ở Nga, gây gián đoạn một nguồn cung quan trọng đối với thị trường dầu mỏ thế giới. Bên cạnh đó, việc các nước khu vực đồng tiền chung châu Âu thống nhất được gói cứu trợ đối với vấn đề nợ của Hy Lạp, cùng những thông tin về việc đồng USD mất giá so với đồng ơ-rô và tình hình việc làm ảm đạm ở Mỹ cũng là những nhân tố tác động đẩy giá dầu mỏ thế giới tăng.

Nhằm ổn định giá dầu mỏ thế giới, mới đây, Diễn đàn Năng lượng Quốc tế (IEF) lần thứ 12 đã họp tại Can-cun (Mê-hi-cô) với sự tham dự của đại diện hơn 60 nước, nhằm hối thúc các nhà sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ cùng chung tay ngăn chặn giá dầu biến động mạnh như đã diễn ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua. Bên lề hội nghị này cũng diễn ra Diễn đàn Doanh nghiệp Năng lượng Quốc tế (IEBF) lần thứ tư, thu hút sự tham dự của lãnh đạo 36 công ty năng lượng quốc tế. IEF là khuôn khổ thảo luận về năng lượng lớn nhất thế giới được tổ chức hai năm một lần, nhằm kêu gọi các nước phối hợp hành động chung nhằm đối phó những rủi ro khi giá dầu lên xuống thất thường.