Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Trung Đông, Nga với "cuộc chiến dầu" ở châu Á



Một nhà máy lọc dầu tại Quảng Đông, Trung Quốc. Các nước sản xuất dầu Trung Đông lên kế hoạch tăng lượng dự trữ dầu thô tại châu Á để củng cố thị phần tại khu vực này. Ảnh: Reuters

Nhu cầu dầu của châu Á được ví như “người khát nước”. Các nước sản xuất dầu Trung Đông, vì vậy đã lên kế hoạch tăng lượng dự trữ dầu thô tại châu Á để củng cố thị phần tại khu vực này.

Tranh giành thị phần châu Á

Trong quá khứ, các nước Âu - Mỹ luôn là trung tâm của nhu cầu dầu mỏ. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước sản xuất dầu Trung Đông bị buộc tranh giành thị trường châu Á với Nga.

Việc Nga tăng nguồn cung cấp dầu tại châu Á đã nhắc nhở các nước sản xuất Trung Đông đẩy mạnh kế hoạch dự trữ dầu tại châu Á. Hiện, Nga đang thông qua đường ống dẫn dầu từ Đông Siberia đến bờ biển Thái Bình Dương (ESPO) cung cấp dầu giá rẻ cho Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước châu Á khác, thay thế các nước sản xuất dầu Trung Đông.

Nhà phân tích của Cơ quan Phân tích an ninh năng lượng Vivek Mathur, cho biết: “Hiện nay, lượng cung cấp dầu của ESPO sang các nước châu Á còn thấp, trong tương lai gần có thể không đặt ra mối đe dọa, nhưng một khi ESPO tăng nguồn cung dầu, các nước sản xuất dầu Trung Đông có thể phải tiến vào cuộc chiến với Nga để bảo vệ thị phần”.

Tháng 12-2009, Bộ trưởng dầu mỏ Ả Rập Saudi, Ali al-Naimi cho biết Ả Rập Saudi đã chấp nhận đề nghị thành lập "kho dự trữ dầu thô vài triệu thùng” tại Nhật Bản, trong đó nêu bật nhu cầu của Trung Quốc và châu Á, cũng như tầm quan trọng ngày càng gia tăng của các nước này. Kế hoạch này đang trong giai đoạn thảo luận.

Giám đốc Cơ quan tư vấn năng lượng châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Al Troner, nói: “Nhật Bản sẽ là bàn đạp để Ả Rập Saudi thâm nhập vào thị trường Trung Quốc. Ả Rập Saudi có thể sử dụng tàu chở dầu nhỏ hơn cung cấp dầu thô cho nhà máy lọc dầu nhỏ tại khu vực ven biển Trung Quốc. Kho dự trữ dầu trên sẽ giúp trung chuyển lô hàng lớn 200 triệu thùng từ Ả Rập Saudi đến Đông Á, giao đến tay các nhà máy lọc dầu nhỏ ven biển”.

Giám đốc công ty dịch vụ thông tin thị trường PFC Energy, David Kirsch, bổ sung: “Trong trường hợp xuất hiện sự gián đoạn về nguồn cung cấp dầu, Ả Rập Saudi sẽ mang lượng dầu dự trữ này xuất cho Nhật Bản hoặc Trung Quốc”.

Tuy nhiên, Ả Rập Saudi lạc hậu hơn Abu Dhabi trong việc giành thị phần tại khu vực Đông Á. Đầu năm ngoái, một công ty dầu mỏ của Abu Dhabi đã thành lập kho dự trữ dầu thô tại miền nam Nhật Bản, nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới. Đồng thời, Hàn Quốc cũng đã đạt thỏa thuận tương tự với một số công ty dầu của nước ngoài, trong đó có một công ty của Pháp.

Nhắm đến Đông Nam Á và Trung Quốc

Những người trong ngành công nghiệp dầu mỏ cho biết ngoài Bắc Á, các nước sản xuất dầu Trung Đông cũng đang xem xét khả năng dự trữ dầu thô tại Nam Á và Đông Nam Á. Qatar có ý định dự trữ dầu thô tại một hòn đảo nhỏ của Indonesia, cách Singapore 45 phút di chuyển bằng đường biển.

Một nguồn tin giấu tên cho biết Singapore đang xây dựng cơ sở dự trữ dầu dưới lòng đất, thu hút các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông, bao gồm Ả Rập Saudi. Ả Rập Saudi cũng xem xét việc dự trữ dầu thô tại Trung Quốc.

Trong năm 2007, nước xuất khẩu dầu lớn thứ năm thế giới là Iran đã ký một biên bản ghi nhớ với Trung Quốc về khả năng thiết lập kho dự trữ chiến lược dầu thô tại nước này. Chính phủ Iran sẽ xúc tiến thành lập kho dự trữ dầu tại Trung Quốc trong năm nay. Một quan chức của Công ty dầu quốc gia Iran (NIOC) cho biết: “Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của chúng tôi trong năm”.

Trong khi đó, Ấn Độ cũng cùng các nước sản xuất dầu Trung Đông thảo luận việc xây dựng cơ sở dự trữ dầu để tăng cường an ninh năng lượng.

Hiện nay, Nga vận chuyển dầu thô đến châu Á khoảng 300.000 thùng/ngày và kế hoạch trước khi kết thúc năm sẽ tăng lên 600.000 thùng/ngày. Mặc dù khối lượng xuất khẩu không lớn so với các nước sản xuất dầu Trung Đông nhưng Nga đang đe dọa thị phần của các nước này.

Sản xuất toàn cầu tăng trưởng trở lại



Sau suy thoái kinh tế, sản xuất toàn cầu đang tăng trưởng trở lại, với sự dẫn đầu của Trung Quốc. Ảnh: Reuters

Các nhà máy từ Trung Quốc đến Mỹ đã tăng tốc trong tháng 3, cho thấy thương mại quốc tế đã bật dậy, góp phần vào công cuộc phục hồi kinh tế toàn cầu.

Các báo cáo cho thấy sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng tháng thứ 13 liên tiếp còn các nhà máy tại Mỹ mở rộng sản xuất nhiều nhất kể từ tháng 7-2004. Chỉ số cảm nhận môi trường kinh doanh (BSI) tại Nhật Bản tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2008, trong khi các nhà máy ở Anh và khu vực đồng tiền chung châu Âu đều tăng sản xuất.

Tăng trưởng kinh tế tăng mạnh ở Trung Quốc đang kéo nền kinh tế toàn cầu ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong hơn sáu thập kỷ qua và mang lợi cho nhiều công ty trên toàn thế giới. Cổ phiếu trên toàn cầu đang trên đà tăng giá sau khi các số liệu về sản xuất cho thấy sự phục hồi là vững chắc.

Theo tập đoàn Li & Fung Hồng Kông – nhà môi giới thương mại hàng đầu kết nối các nhà sản xuất Trung Quốc với các công ty nhập khẩu Mỹ - chỉ số các nhà quản lý mua hàng (PMI) tháng 3 của Trung Quốc đã tăng lên 55,1 điểm từ mức 52 điểm trong tháng trước đó. Chỉ số PMI lớn hơn 50 điểm là dấu hiệu của sự gia tăng sản xuất.

Tại Mỹ, chỉ số của Viện quản lý cung ứng ISM đã tăng lên 59,6 điểm, từ mức 56,5 điểm trong tháng 2 và vượt quá dự báo lạc quan nhất từ một cuộc khảo sát của Bloomberg News. Chỉ số Tankan tại Nhật Bản đã cải thiện ở mức -14 trong tháng 3 từ mức -25 trong tháng 12, trong khi đó các nhà máy của châu Âu đã mở rộng với tốc độ nhanh nhất trong hơn ba năm.

Chỉ số chứng khoán MSCI Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,9% lên 126,25 vào ngày 01-04, trong khi chỉ số Standard & Poor's 500 tăng 0,7% lên 1,177.96 vào lúc 12 giờ 37 phút chiều hôm qua 3-4 tại New York.

Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 3,9% trong năm nay sau khi sụt giảm 0,8% trong năm 2009 với Trung Quốc tăng 10%, gần gấp năm lần so với tốc độ dự kiến của Mỹ.

Tại Trung Quốc, sự tăng tốc kinh tế có thể cho phép chính quyền xem xét tăng giá đồng nhân dân tệ lần đầu tiên kể từ giữa năm 2008 và tăng lãi suất.

Sản xuất tại Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, mở rộng với tốc độ nhanh nhất trong 14 năm qua. Còn tại Mỹ, chỉ số ISM của các đơn hàng xuất khẩu đã tăng lên 61,5 trong tháng 3, mức cao nhất kể từ mức 56,6 vào tháng 09-1989.

Triển vọng của các nền kinh tế mới nổi



"Các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc, Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc… sẽ tiếp tục thịnh vượng trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ chìm vào cuộc khủng hoảng nợ" - một Tạp chí tài chính của Mỹ ngày 7/4 nhận định.
Theo tờ báo, các nhà đầu tư đổ về thị trường nợ của các nền kinh tế mới nổi chỉ để tìm nơi trú ẩn trong thời điểm khủng hoảng kinh tế làm tê liệt thị trường ở các nước phát triển. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo các nền kinh tế đang phát triển sẽ tăng trưởng 6% trong năm 2010 sau khi chỉ tăng 2,1% năm 2009, trong khi các nền kinh tế phát triển chỉ tăng 2,1% năm 2010 và giảm 3,2% năm 2009.
Trái phiếu của các thị trường mới nổi đã đạt kỷ lục trong quý 1/2010 khi bắt đầu đợt phát hành mới và khoảng cách lãi suất với trái phiếu kho bạc Mỹ đã thu hẹp tới mức thấp nhất kể từ năm 2008. Cho đến nay, trái phiếu của các thị trường mới nổi đã bán được tới kỷ lục 157 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm 2009. Trong khi đó, tổng số tiền Mỹ phải thanh toán lãi nợ của chính phủ liên bang có thể lên tới 10% tổng thu của liên bang vào năm 2013. Xu hướng các thị trường mới nổi mua nợ của Mỹ cũng như hiện tượng thể chế mua trái phiếu kho bạc Mỹ giảm nhu cầu mua các trái phiếu này đã làm dấy lên những suy đoán rằng, sắp tới, các nước đang phát triển trở thành thiên đường an toàn cho các nhà đầu tư trái phiếu. Nhưng kịch bản khả dĩ nhất là sự đảo ngược của các dòng vốn sẽ tiếp tục cứu các trái phiếu kho bạc Mỹ trong thời gian dài nữa. Trung Quốc hiện là nước giữ lớn nhất số trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm từ 894,8 tỷ USD trong tháng 12/2009 xuống 889 tỷ USD trong tháng 1/2010. Nhật Bản - nước giữ trái phiếu Mỹ lớn thứ 2 đã giảm 300 triệu USD giá trị trái phiếu Mỹ trong tháng 12 xuống còn 765,4 tỷ USD trong tháng 1/2010.

Văn phòng quản lý và ngân sách của Quốc hội Mỹ dự báo thâm hụt ngân sách của chính quyền Obamaa trong năm tài chính 2011 có thể tới 8,53 ngàn tỷ USD, mức cao nhất trong 10 năm qua. Văn phòng Kiểm toán của Quốc hội Mỹ thậm chí dự đoán mức thâm hụt ngân sách này còn lên tới 9,75 ngàn tỷ USD khi bước sang thập kỷ tới. Mỹ phải trả ít nhất 3,5 ngàn tỷ USD nợ ngắn hạn đến kỳ thanh toán trong 18 tháng tới, tương đương với 30% GDP

Thế giới thay đổi như thế nào sau khủng hoảng?



Sau khi khủng hoảng tài chính đi qua đã để lại cho thế giới những biến đổi lớn, đặc biệt sự thay đổi này càng rõ nét khi năm 2010 đang đến gần.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện đã đem đến cho thế giới 10 thay đổi:

Trước tiên, ngành tài chính vẫn chưa thể ổn định, trong tương lai nhiệm vụ hàng đầu của ngành tiền tệ thế giới là cứu chính mình, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển. Hiện tại khu vực tài chính toàn cầu vẫn còn tồn tại rất nhiều tài sản xấu.

Thứ hai, ngành tài chính cần phải tăng cường cơ chế giám sát tổng thể. Đặc biệt như cơ cấu giám sát tài chính của Mỹ và các nước châu Âu đã được thay đổi một cách toàn diện.

Thứ ba, trong bối cảnh hiện tại, quy mô tài chính toàn cầu bị co hẹp là điều khó tránh khỏi, bởi sau khi khủng hoảng tài chính đi qua, mức độ suy thoái của các nền kinh tế còn mạnh hơn so với giai đoạn của đại suy thoái. Mặc dù hiện tại nền kinh tế toàn cầu đã có những dấu hiệu tăng trưởng nhưng mức phục hồi vẫn còn rất yếu.

Thứ tư, trong bối cảnh thị trường tài chính đang có những thay đổi đáng kể thì thị trường cổ phiếu cũng có những giảm sút nhất định, sự thay đổi trong cơ cấu của thị trường cổ phiếu, trái phiếu đang khiến cho quy mô kho dự trữ ngoại hối các nước cũng thay đổi, các nguồn vốn phát sinh bị co rút lại.

Thứ năm, cơ cấu tài chính cũng bắt đầu xuất hiện những điều chỉnh và thay đổi đồng bộ, người dân sửa chữa những bản cân đối tài sản của mình, ngành ngân hàng giảm bớt các dịch vụ, đặc biệt là nhu cầu giao dịch tài chính cũng giảm.

Thứ sáu, mức lợi nhuận của ngành tài chính toàn cầu cũng thay đổi và đi theo chiều hướng giảm xuống.

Thứ bảy, chính là sự suy giảm của nguồn vốn toàn cầu, trong đó là nguồn vốn tại các lĩnh vực tư nhân giảm đáng kể.

Thứ tám, các tổ chức tài chính khổng lồ bắt đầu bị “thu hẹp”. Ví dụ như quy mô tài sản của Citigroup và Deutsche Bank giảm đáng kể khi khủng hoảng tài chính đi qua.

Thứ chín, ngành tài chính toàn cầu thay đổi theo cấu trúc và khu vực địa lý. Đây cũng chính lý do tại sao một số chuyên gia phân tích lại cho rằng trung tâm của nền tài chính toàn cầu bắt đầu hướng sang phía Đông. Trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính, cơ cấu kinh tế toàn cầu đã có những thay đổi và thị trường mới nổi là thể chế kinh tế đóng vai trò quan trọng hiện nay.

Thứ mười, tất cả chúng ta đều công nhận rằng khủng hoảng tài chính lần này phát sinh cùng với thời điểm của toàn cầu hóa, vì vậy hiện tại thế giới cần một một cơ quan quản trị tài chính toàn cầu. Điều đó cũng lý giải vì sao khuôn khổ quản trị tài chính ổn định và tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu đang được xây dựng lại.

Ngẫm về suy thoái kinh tế thế giới



picture
Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.

Đó là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.

VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.

Năm 2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay. Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn chặn một cách ngoạn mục.

Cách đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.

Tuy nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.

Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.

Mặc dù vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy thoái này đã không quá khủng khiếp.

Nhưng điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn.

Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.

Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.

Giá nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công, chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.

Nếu bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế giàu có.

Sự khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.

Tỷ lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.

Do vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn. Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia tăng.

Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài.

Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Một số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài hạn cũng sẽ giảm bớt.

Tuy nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.

Đó là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích thích tăng trưởng.

Tệ hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu.
Tại Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.

Có thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương...

Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.

Thị trường dầu Iran: Các nước nhảy ra, Trung Quốc nhảy vào



Trung Quốc sẽ thực sự ủng hộ lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran? Ảnh: VOA

Trong khi các nhà máy lọc dầu lớn của thế giới lo sợ vi phạm lệnh trừng phạt của Liên hiệp quốc (LHQ) đối với Iran, đã dần dần ngưng bán các sản phẩm dầu cho Iran, thì Trung Quốc nắm bắt khoảng trống của thị trường, bán dầu thành phẩm cho Iran.

Tuy nhiên, các chuyên gia không ngạc nhiên về việc này và cho rằng Trung Quốc vẫn sẽ là trở ngại lớn nhất để thông qua lệnh trừng phạt Iran.

Theo Reuters AP ngày 14-4, hiện hai công ty kinh doanh dầu lớn của Trung Quốc đang dự định bán các sản phẩm dầu cho Iran.

Reuters dẫn nguồn tin trong ngành công nghiệp dầu nói rằng công ty kinh doanh dầu quốc doanh của Trung Quốc (Chinaoil) đã bán cho Iran 600.000 thùng dầu với tổng trị giá 55 triệu đô la Mỹ.

Reuters cho biết Chinaoil lần đầu tiên bán trực tiếp các sản phẩm dầu cho Iran. Trước đó, công ty này luôn thông qua bên thứ ba để bán sản phẩm dầu cho Iran.

Ngoài ra, ReutersAP còn cho biết một công ty lọc dầu lớn khác của Trung Quốc là Unipec đang có kế hoạch bán xăng cho Iran. Hoạt động này sẽ nối lại việc bán các sản phẩm dầu của công ty này cho Iran sau gần 6 năm gián đoạn.

Reuters trích dẫn nguồn tin trong giới thương mại cho biết Unipec vào ngày 13-4 đã thiết lập một tàu chở hàng tại Singapore, dự định chở 250.000 thùng xăng đến Iran.

Trong khi Mỹ và châu Âu thuyết phục Trung Quốc hỗ trợ lệnh trừng phạt của LHQ đối với Iran, hai công ty kinh doanh là Glencore và Vitol cũng như các công ty dầu Shell Oil và Luke đã quyết định ngưng bán xăng cho Iran.

Chuyên gia về quan hệ Trung Quốc và Iran, giáo sư quan hệ quốc tế Đại học Georgia Tech, John Garver, nói việc bán xăng cho Iran không vi phạm lệnh trừng phạt đối với Iran sau khi nghị quyết của LHQ được thông qua. Ông nói: “Lệnh trừng phạt đối với Iran chỉ nhắm đến công ty và cá nhân có liên quan đến chương trình hạt nhân”.

John Garver cho rằng thông tin các công ty Trung Quốc phục hồi việc bán xăng trực tiếp cho Iran cho thấy Trung Quốc vẫn còn miễn cưỡng trong việc ủng hộ Mỹ và châu Âu đề xuất hình thức xử phạt đối với Iran. Ông nói: “Thái độ của Trung Quốc là trừng phạt không giúp giải quyết vấn đề mà sẽ làm tăng thêm sự căng thẳng, do đó, giải quyết vấn đề sẽ khó khăn hơn. Trung Quốc cho rằng không nên áp dụng lệnh trừng phạt mà Mỹ và Iran nên thỏa hiệp với nhau”.

Giáo sư John Garver nói Mỹ và châu Âu không thể mong đợi xa hơn khi giữa Trung Quốc và Iran tồn tại mối quan hệ đặc biệt trong vấn đề năng lượng, kinh tế và thậm chí cả về chiến lược.

Mặc dù ngày càng có nhiều nhà máy lọc dầu và thương nhân ngừng bán các sản phẩm dầu cho Iran, Iran vẫn tiếp tục mua số lượng lớn nhiên liệu từ thị trường quốc tế. Reuters cho biết các công ty bán xăng cho Iran bao gồm công ty dầu khí quốc gia Malaysia (Petronas) và Tổng công ty dầu của Pháp (Total)…

Một thương nhân nói với Reuters, miễn mang lại lợi ích kinh tế, Iran luôn là thị trường quốc tế mà người bán dầu tìm đến.

Các nước tìm giải pháp ổn định giá dầu mỏ



Dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ thế giới năm 2010 sẽ lên tới 86,6 triệu thùng/ngày. So với năm 2009, mức tăng này lớn hơn tới 1,6 triệu thùng/ngày, tương đương 1,8%. Trong khi đó, lo ngại về nguy cơ những vụ khủng bố tiếp theo ở Nga, đang đe dọa gây gián đoạn một nguồn cung quan trọng đối với thị trường dầu mỏ thế giới, đã làm giá mặt hàng này tăng mạnh. Việc ổn định giá dầu mỏ thế giới đang cần có lời giải.

Trong tháng 3 vừa qua, lần thứ hai trong vòng một tháng, Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA) đã điều chỉnh tăng mức dự báo nhu cầu năng lượng thế giới năm 2010, sau khi các số liệu mới nhất được công bố cho thấy, mức tiêu thụ năng lượng khu vực châu Á tiếp tục tăng hơn dự kiến. Theo đó, nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ thế giới năm 2010 sẽ tăng thêm 70 nghìn thùng lên 86,6 triệu thùng/ngày. Mức tăng này lớn hơn tới 1,6 triệu thùng/ngày, tương đương 1,8% so với con số năm 2009, đồng thời vượt mức tiêu thụ 86,2 triệu thùng/ngày của năm 2008. Theo IEA, nhóm các nước nằm ngoài Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vẫn là những nước dẫn đầu về sức phục hồi tiêu thụ năng lượng toàn cầu. Trong đó, nhu cầu từ nhóm các nước không thuộc OECD tại khu vực châu Á sẽ chiếm tới hơn một nửa nhu cầu dầu mỏ toàn cầu. IEA dự báo, năm 2010, nhu cầu dầu mỏ của các nước châu Á sẽ đạt mức 26,7 triệu thùng/ngày, nhu cầu dầu mỏ ở Trung Ðông đạt 7,6 triệu thùng/ngày, tăng so với mức 7,2 triệu thùng/ngày năm 2009.

Theo nhận định của IEA, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc sẽ chiếm khoảng một phần ba tổng nhu cầu dầu mỏ toàn thế giới năm 2010, đủ để bù đắp lại phần nào sự suy giảm nhu cầu của các nền kinh tế phát triển, nhất là các nước phương Tây. IEA đánh giá rằng, mức tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc có thể còn tăng thêm khi chính phủ nước này dự định sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nếu như áp lực lạm phát trong nước dịu đi. Theo đó, IEA dự báo nhu cầu dầu mỏ Trung Quốc năm 2010 sẽ tăng thêm 130 nghìn thùng lên chín triệu thùng/ngày, tăng 6,2% so với năm 2009.

Nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ các nước không thuộc nhóm OECD trong năm 2010 dự đoán sẽ đạt khoảng 41,2 triệu thùng/ngày, tăng thêm 1,7 triệu thùng hay tăng 4,3% so với mức tiêu thụ năm 2009. Con số này cũng tăng cao hơn 190 nghìn thùng dầu/ngày so với mức dự đoán trước đó mà IEA đã đưa ra. Ngược lại, nhu cầu dầu mỏ năm 2010 của các nước OECD lại giảm 120 nghìn thùng/ngày so với mức dự báo trước đó, xuống còn 45,4 triệu thùng/ngày, giảm 0,3% so với năm 2001.

IEA cũng cắt giảm mức dự báo về sản lượng dầu mỏ mà Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cần cung cấp cho thị trường nhằm cân bằng cung và cầu tiêu thụ thế giới. Theo đó, sản lượng dầu mỏ của OPEC sẽ chỉ đạt khoảng 29,3 triệu thùng/ngày, giảm 100 nghìn thùng so với dự báo mà IEA công bố hồi tháng 2 vừa qua.

Trong khi đó, theo Ủy ban năng lượng quốc gia Trung Quốc (NEA), tổng sản lượng tiêu thụ dầu mỏ trong năm 2010 của Trung Quốc sẽ vẫn được duy trì ở mức hơn 400 triệu tấn. Một trong những nguyên nhân làm nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ ở nước này tăng là do sự gia tăng nhu cầu sử dụng xe hơi và sự hồi phục của ngành công nghiệp vận tải.

Ấn Ðộ, quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và là một trong bốn nước mới nổi thuộc nhóm BRIC cũng là nước tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ ba tại châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Theo thống kê, lượng tiêu thụ dầu mỏ của Ấn Ðộ lên tới hơn hai triệu thùng/ngày. Do sản lượng dầu mỏ của Ấn Ðộ chỉ đạt 700 nghìn thùng/ngày, vì vậy 70% nhu cầu năng lượng của nước này là được nhập khẩu.

Trong bối cảnh nhu cầu dầu mỏ tăng cao trong năm 2010, vụ tiến công khủng bố tại hai nhà ga tàu điện ngầm ở Nga mới đây đã ngay lập tức ảnh hưởng đến tình hình giá cả của một số mặt hàng chiến lược trên thế giới, khiến giá dầu mỏ tăng lên mức cao nhất trong 17 tháng qua. Ngày 31-3, giá dầu mỏ trên thị trường thế giới đã tăng xấp xỉ 84 USD/thùng, gần bằng mức cao điểm hồi tháng 10-2008. Tại thị trường Niu Oóc, giá dầu thô ngọt nhẹ giao trong tháng 5-2010 đã tăng lên mức 83,76 USD/thùng. Giá dầu Brent Biển Bắc giao

dịch trên thị trường Luân Ðôn có cùng thời hạn giao hàng cũng tăng lên mức 82,70 USD/thùng. Việc dầu mỏ thế giới tăng giá một phần là do những lo ngại về nguy cơ phát sinh những vụ khủng bố tiếp theo ở Nga, gây gián đoạn một nguồn cung quan trọng đối với thị trường dầu mỏ thế giới. Bên cạnh đó, việc các nước khu vực đồng tiền chung châu Âu thống nhất được gói cứu trợ đối với vấn đề nợ của Hy Lạp, cùng những thông tin về việc đồng USD mất giá so với đồng ơ-rô và tình hình việc làm ảm đạm ở Mỹ cũng là những nhân tố tác động đẩy giá dầu mỏ thế giới tăng.

Nhằm ổn định giá dầu mỏ thế giới, mới đây, Diễn đàn Năng lượng Quốc tế (IEF) lần thứ 12 đã họp tại Can-cun (Mê-hi-cô) với sự tham dự của đại diện hơn 60 nước, nhằm hối thúc các nhà sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ cùng chung tay ngăn chặn giá dầu biến động mạnh như đã diễn ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua. Bên lề hội nghị này cũng diễn ra Diễn đàn Doanh nghiệp Năng lượng Quốc tế (IEBF) lần thứ tư, thu hút sự tham dự của lãnh đạo 36 công ty năng lượng quốc tế. IEF là khuôn khổ thảo luận về năng lượng lớn nhất thế giới được tổ chức hai năm một lần, nhằm kêu gọi các nước phối hợp hành động chung nhằm đối phó những rủi ro khi giá dầu lên xuống thất thường.

Núi lửa cũng … gây khủng hoảng



Bắt đầu phun trào từ ngày 15/4, núi lửa Eyjafjallajokull tại Iceland đã gây ra cuộc “khủng hoảng hàng không” chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Hành khách chờ đợi tại sân bay Charles-de-Gaulle (Pháp) do nhiều chuyến bay bị hủy bỏ . Ảnh: AFP

Trong những ngày qua, những hạt tro bụi do núi lửa Eyjafjallajokull phun trào đã khiến một loạt doanh nhân, khách du lịch, nghệ sĩ và cả các vị nguyên thủ quốc gia bỗng dưng … không thể du hành được nữa. Không còn có việc thức dậy ở Istanbul, ăn trưa ở Paris và qua đêm ở Manhattan. Nhiều người phải trở lại với các phương tiện giao thông cổ điển như xe lửa, xe hơi, tàu thủy trong những chuyến đi kéo ngày nhiều ngày thay vì vài tiếng đồng hồ.

Tuy nhiên, theo thông tin mới nhất, đến ngày 19/4, núi lửa Eyjafjallajokull tại Iceland hầu như đã ngừng phun trào. Đây quả là một thông tin được chờ đợi nhất trong những ngày qua.

Trong 6 ngày “hoạt động”, tro bụi của núi lửa Eyjafjallajokull bao phủ bầu trời châu Âu. Các đám bụi khoáng chất đã trải dài từ vòng Bắc Cực ở phía Bắc cho tới vùng ven biển Địa Trung Hải của Pháp ở phía Nam; từ Tây Ban Nha cho tới bên trong lãnh thổ nước Nga. Các vùng không phận vẫn đóng cửa toàn bộ hoặc từng phần ở hơn 20 quốc gia.

Với 313 sân bay bị tê liệt, cuộc khủng hoảng hàng không hiện nay đã làm hơn 6,8 triệu hành khách bị ảnh hưởng và các sân bay châu Âu đã mất gần 200 triệu Euro/ngày.

Theo Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, hậu quả về mặt kinh tế đối với các công ty hàng không còn nặng hơn cả … vụ khủng bố ngày 11/9. Cao ủy châu Âu phụ trách về giao thông, Siim Kallas, cũng đưa ra nhận định “những thiệt hại của sự kiện chưa từng có này có thể vượt quá tác động của sự kiện 11/9”.

Lufthansa, tập đoàn hàng không lớn nhất châu Âu cho biết họ mất 25 triệu Euro/ ngày kể từ khi xảy ra lệnh cấm bay và lên tiếng chỉ trích các nhà chức trách đã áp dụng lệnh cấm bay chỉ dựa trên các dữ liệu mà không dựa vào kết quả của các chuyến bay thử nghiệm an toàn. Hãng Hàng không Emirates của Dubai cho biết họ mất 10 triệu USD/ngày do hủy bay và phải cung cấp chỗ ở và thực phẩm cho khoảng 6.000 người bị kẹt lại sân bay. Các sân bay của Nga đã buộc phải hủy bỏ 448 chuyến bay và hoãn 80 chuyến bay khác từ lãnh thổ Nga, khiến 38.700 hành khách lỡ chuyến.

Các công ty, hãng hàng không, nhà xuất khẩu và du lịch của Hàn Quốc đã chịu thiệt hại lớn do các chuyến bay bị ngừng ... Chẳng hạn, mỗi ngày sản phẩm bán dẫn Hynix thiệt hại 2 tỷ won (20 triệu USD) trong khi ngành Bán dẫn dự kiến thiệt hại khoảng 5 tỷ won.

Liên minh châu Âu ngày 19/4 cho biết sẵn sàng cho phép các nước thành viên tiến hành những trợ giúp đặc biệt đối với các hãng hàng không đang phải hứng chịu tổn thất do khói bụi gây ra.

Không chỉ ngành Hàng không bị thiệt hại, cuộc “khủng hoảng tro bụi núi lửa” còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Các kho chứa hàng đông lạnh tại sân bay Nairobi (Kenya) và ở các nông trại nay đã chất đầy và một lượng lớn hoa và trái cây tươi cho thị trường châu Âu đang có nguy cơ bị hỏng.

Cuộc khủng hoảng này cũng đã khiến cho cuộc đua xe máy quốc tế Nhật Bản MotoGP, dự kiến diễn ra vào ngày 1/5 tới, bị hoãn.

Các công ty du lịch Pháp thì đang kêu gọi sự trợ giúp của Chính phủ để đưa khách đang kẹt lại ở nước ngoài về nước. Nhiều công ty du lịch đã lo sợ bị phá sản. Bên cạnh đó là một loạt các hệ quả dây chuyền khác, như nhiều nhân viên đi phép không trở về làm việc được khiến một số công ty nhỏ không thể hoạt động. Tại nước Anh, thực phẩm tươi như rau quả bắt đầu khan hiếm.

“OPEC khí đốt” vẫn chỉ là truyền thuyết



Hội nghị cấp Bộ trưởng lần thứ 10 của Diễn đàn các nước xuất khẩu khí đốt hôm 19/4 đã được tổ chức tại Oran - thành phố lớn thứ hai của Algeria. Trong tình cảnh cung vượt quá cầu, các nước sản xuất khí đốt chủ yếu trên thế giới đều đang tìm kiếm sự hợp tác mật thiết hơn, hy vọng có thể giống như tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC, tìm một mức giá có lợi cho bên bán. Nhưng theo các nhà phân tích, do bị hạn chế bởi nhiều nhân tố, tầm ảnh hưởng của diễn đàn này trong thời gian ngắn khó có thể thể hiện rõ rệt.

Mặc dù các nước tham gia hội nghị đều có chung một mong muốn mãnh liệt đó là nâng giá khí đốt, nhưng hội nghị vẫn chưa thể tung ra kế hoạch cắt giảm sản lượng theo ý tưởng của nước chủ nhà Algeria, trên một mức độ rất lớn, nguyên nhân chính là do tính phức tạp của cơ cấu thị trường.

Trong thời gian diễn ra hội nghị, các nước thành viên quan trọng như Nga nhiều lần nhấn mạnh, thị trường khí đốt là một thị trường mang tính khu vực bị hạn chế bởi nhân tố địa lý, phương thức vận chuyển khí đốt, hợp đồng dài hạn cũng như hình thức giá thương mại kép của thị trường hàng hóa đều không giống với dầu mỏ, do đó, hạn chế sản lượng không nhất định có thể giữ nguyên giá cả. Các quan chức và rất nhiều chuyên gia trong ngành tham dự hội nghị như Nga và Libya đều cho rằng, diễn đàn xuất khẩu các nước khí đốt hiện vẫn chỉ là một sân chơi trao đổi thông tin của một quốc gia thành viên, mức độ khó của việc hoạch định chính sách và điều chỉnh cơ cấu để trở thành một tổ chức như OPEC còn rất lớn.

Tuy nhiên, cuối cùng thì hội nghị vẫn đạt được nhận thức chung – Các nước thành viên nhất trí hy vọng thực hiện được mục tiêu neo giá khí đốt theo giá dầu thô, nhằm mục đích thông qua các chính sách như thực hiện hạn chế sản lượng giữ nguyên mức giá trên thị trường dầu thô, trong khi điều chỉnh giá dầu cũng sẽ gián tiếp ảnh hưởng tới giá khí đốt. Nhưng ý tưởng liên động này ở mức độ nào đó nếu có thể thực hiện được, thì sẽ đóng vai trò gì đối với các hợp đồng dài hạn, hiện vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Angeria, Chủ tịch luân phiên của Diễn đàn các nước xuất khẩu khí đốt – ông Chakib Khelil cho biết, về ảnh hưởng của việc OPEC thực hiện hạn mức sản lượng dầu thô mỗi ngày, hiện chưa có quốc gia và cơ quan nào là đối thủ xứng tầm. Nhưng đối với Diễn đàn các nước xuất khẩu khí đốt mà nói, hiện hai quốc gia quan trọng là Mỹ và Úc vẫn chưa phải là nước thành viên.

Châu Phi kỳ vọng vào "sự bùng nổ du lịch"



Một khu du lịch ở Kenya.
Không nằm ngoài tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, năm 2009 đã khép lại với không ít những khó khăn nhưng cũng mở ra những tín hiệu để châu Phi có thể kỳ vọng vào bức tranh sáng sủa hơn trong năm 2010.
Một trong những hy vọng có thể "kích" nền kinh tế châu Phi đi lên trong năm nay là "sự bùng nổ du lịch" nhờ lần đầu đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 (World Cup) sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh trong năm. Theo Chủ tịch Ngân hàng phát triển châu Phi (BAD) Donald Kaberuka, năm 2010 sẽ là năm kinh tế châu Phi hồi phục. Khoảng 20 nước châu Phi được dự báo sẽ khôi phục mức tăng trưởng kinh tế hơn 5% như CH Congo, Malawi, Morocco, Tanzania, Ethiopia, Uganda... 12 nước khác như Nigeria, Burundi, Togo, Kenya, CHDC Congo... sẽ đạt tăng trưởng khoảng 3%.

Theo nhận định của các chuyên gia, Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 tổ chức tại Nam Phi khiến châu Phi sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách. Ðây là cơ hội để châu Phi khai thác tiềm năng du lịch và chứng minh sức hấp dẫn tiềm ẩn của mình. Các nước láng giềng của Nam Phi như Zambia, Zimbabwe cũng lên các chương trình thu hút khách du lịch nhân sự kiện thể thao này. Bộ Du lịch Zimbabwe cho biết, đang tìm kiếm khoản ngân sách 70 triệu USD đầu tư chiến dịch thu hút khách du lịch dự Cúp bóng đá thế giới, trong đó năm triệu USD dành cho quảng cáo để thế giới biết đến một châu Phi kỳ thú. Nam Phi hy vọng sự cạnh tranh giữa các công ty trong thời gian này sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp du lịch nước này mở rộng và khai thác những thị trường mới, đặc biệt là khách du lịch đến từ châu Mỹ.

Các nước châu Phi cũng đang tìm cách thu hút nhiều hơn du khách Mỹ. Việc ông B.Obama, người gốc Phi, trở thành Tổng thống da mầu đầu tiên của Mỹ được coi như một yếu tố để nhiều nước châu Phi khuyến khích người Mỹ tới đây. Cụm từ "Hiệu ứng Obama" được nhắc đến như một yếu tố mang lại ngày càng nhiều du khách Mỹ tới Kenya, quê hương của ông. Kenya đang xây dựng các dịch vụ du lịch chung quanh thành phố quê hương của ông Obama ở làng Nyangoma-Kogelo, gần hồ Victoria ở miền tây nước này. Tháng 7-2009, Obama và gia đình đã thăm một nơi từng là chợ buôn bán nô lệ trước kia ở Ga-na và nơi đây hiện đang được đưa vào bản đồ du lịch cùng các di tích lịch sử khác ở đất nước Tây Phi này. Trong khi đó, nhiều nước châu Phi cũng đang tìm cách thu hút khách du lịch từ các thị trường mới như Ấn Ðộ và Trung Quốc, những nước đang ngày càng xúc tiến nhiều hoạt động trao đổi thương mại và văn hóa với lục địa đen. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới LHQ (UNWTO), xu hướng du lịch thế giới năm 2009 đã có những điều chỉnh. Mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, du lịch toàn cầu giảm 4%, song lượng khách quốc tế tới châu Phi lại tăng 5%.

Tuy nhiên, với con số khách du lịch đến châu Phi năm ngoái chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng số 880 triệu du khách trên toàn thế giới thì việc đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần quan trọng phát triển kinh tế, các nước châu Phi còn phải đối mặt không ít khó khăn. Nhiều điểm nóng xung đột vẫn xảy ra hằng ngày đang ngăn cản bước chân du khách đến với miền đất hoang sơ này. Châu Phi tiềm năng lớn, nhưng thách thức cũng lớn.

Ế vé World Cup, Nam Phi lo sốt vó



Một fan người Algeria khoe tấm vé xem trận cầu giữa đội nhà và Ai Cập tại World Cup 2010 - Ảnh: AP.

Là nước chủ nhà của Cúp bóng đá thế giới (World Cup) 2010, Nam Phi đã chi 4,6 tỷ USD để chuẩn bị cho “bữa tiệc” này, bao gồm việc xây dựng và nâng cấp 10 sân vận động đẳng cấp quốc tế. Điều Nam Phi cần lúc này là một số lượng khổng lồ du khách, nhưng kỳ vọng của họ có vẻ như sẽ khó được đáp ứng.

Tờ Business Week cho biết, ban đầu, Chính phủ Nam Phi đặt mục tiêu sự kiện thể thao có lượng khán giả đông đảo nhất hành tinh sẽ đem đến cho họ 450.000 du khách quốc tế, qua đó giúp tạo ra công ăn việc làm cho 1/4 số người hiện đang thất nghiệp hiện nay ở nước này. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, khi sắp tới ngày bóng lăn trong trận khai mạc World Cup 2010 (11/6), các nhà trách của nước chủ nhà đã phải hạ mức kỳ vọng của mình xuống.

Con số du khách quốc tế mà Nam Phi dự kiến sẽ đặt chân tới nước này để chiêm ngưỡng các trận túc cầu trong khuôn khổ World Cup hiện chỉ còn 350.000 người. Một số ý kiến thậm chí còn cho rằng, đây là một con số có phần quá lạc quan, vì từ tháng 3 tới nay, mới chỉ có khoảng 100.000 vé máy bay quốc tế được đặt trước cho sự kiện này.

Tương tự, ước tính về đóng góp của bữa tiệc bóng đá lớn nhất thế giới vào GDP của Nam Phi cũng được cắt giảm tới một nửa, xuống còn 0,5%. “Khi chúng tôi được trao quyền đăng cai World Cup vào năm 2004, tình hình kinh tế hoàn toàn khác. Giờ chúng tôi phải điều chỉnh lại các kỳ vọng và cần phải thực tế”, ông Makhenkesi Stofile, Bộ trưởng Bộ Thể thao Nam Phi, phát biểu hôm 19/3.

Lượng du khách thấp sẽ là một đòn giáng mạnh vào những nỗ lực của Chính phủ Nam Phi nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế vốn vừa mới thoát lần suy thoái đầu tiên trong 17 năm của nước này. Đó cũng sẽ là một điều đáng buồn đối với Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma và ông Sepp Blatter, người đứng đầu Liên đoàn Bóng đá Thế giới (FIFA) - hai người luôn lên tiếng khẳng định rằng World Cup lần đầu được tổ chức tại lục địa đen sẽ gặt hái thành công.

Những thống kê liên quan tới World Cup tại Nam Phi tới thời điểm này không phải là những con số tuyệt vời.

Match Services, một công ty Thụy Sỹ mà FIFA ký hợp đồng để cung cấp vé và dịch vụ lưu trú cho sự kiện bóng đá lớn nhất hành tinh, mới chỉ cung cấp được quyền đặt phòng trước cho hơn 450.000 đêm lưu trú. Theo FIFA, lượng đặt trước các gói dịch vụ dành cho doanh nghiệp như các nhà tài trợ và các đối tác của sự kiện mới chỉ đạt 50% mục tiêu, vì nhiều đơn vị đã trả lại hàng ngàn vé hạng cao cấp.

Nói về lý do ngại tới Nam Phi xem bóng đá mùa hè này, nhiều “tín đồ” của môn túc cầu giáo cho biết họ dè dặt vì mức chi phí cao phải trả cho những chuyến bay dài và chỗ ở khách sạn. “Toàn bộ chuyến đi kéo dài hai tuần sẽ khiến mỗi người trong chúng tôi tốn hơn 3.000 USD. Số tiền đó là quá nhiều”, anh David McNally, một kế toán ở Swindon, Anh, người có ý định tới Nam Phi cùng bạn bè để xem World Cup, cho hay.

Tuy nhiên, ngoài khu vực châu Phi, tới thời điểm hiện nay, Mỹ là quốc gia có lượng mua vé xem World Cup nhiều nhất, với 108.000 vé đã được mua. Điều này cho thấy, người Mỹ đã thích bóng đá hơn trước. Để tăng thêm sức hấp dẫn đối với các khán giả từ Mỹ, FIFA đã gây áp lực buộc hãng hàng không Emirates, nhà tài trợ của World Cup, cắt giảm giá cho chuyến các bay khứ hồi của hãng này từ New York tới Johannesburg xuống còn 2.000 USD, từ mức 3.000 USD.

Theo nhận định của Business Week, trong trường hợp khả quan nhất, Nam Phi cũng khó có thể lặp lại được thành công của World Cup 2006 diễn ra tại Đức. Thống kê của Chính phủ Đức cho thấy, với sự kiện năm đó, Đức đã thu hút được 2 triệu du khách quốc tế, đem đến cho ngành du lịch doanh thu 400 triệu USD, ngành bán lẻ 2,7 tỷ USD.

“World Cup tổ chức tại châu Âu luôn được lợi vì có tới hơn một nửa số đội bóng tham gia đến từ các quốc gia ngay ở châu lục này”, ông Jaime Byrom, Chủ tịch công ty Match, nhận xét.

Mặc dù các nhà chức trách Nam Phi vẫn đang kỳ vọng lượng du khách đặt mua vé tới xem World Cup sẽ tăng vọt vào phút cuối khi các công ty du lịch hạ giá tour, các chuyên gia vẫn cho rằng, tốt hơn hết, họ nên kiềm chế hy vọng.

Các nước mới nổi tăng đầu tư vào châu Phi



Tập đoàn viễn thông Ấn Độ, Barthi Telecom vừa mua lại mạng di động của hãng Zayn (Qata), tại 17 nước châu Phi - Ảnh: Reuters.

Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil... đang tăng cường đầu tư vào châu Phi, nơi có hơn 1 tỷ người tiêu dùng và đang đô thị hoá mạnh mẽ. Ngoài việc chiếm lĩnh thị trường và khai thác nguyên liệu, các nước mới nổi đang đa dạng hoá và mở rộng đầu tư tại châu Phi sang nhiều lĩnh vực.

Các nền kinh tế mới nổi đã thâm nhập mạnh vào kinh tế châu Phi trong bối cảnh họ có nguồn ngoại tệ dồi dào và khát nguyên liệu. Trong khi đó, các nhà đầu tư từ những nước phát triển hiện gặp khó khăn tài chính do khủng hoảng kinh tế và cũng không còn “mặn mà” với việc đầu tư vào châu Phi.

Tăng vốn và mở rộng lĩnh vực đầu tư

Trung Quốc hiện là quốc gia đầu tư lớn và có ảnh hưởng rộng rãi nhất tại châu Phi. Kim ngạch thương mại song phương đã tăng mạnh từ 10,6 tỷ USD năm 2000 lên 75,5 tỷ USD năm 2008. Tháng 2 vừa qua, hai bên đã lập Uỷ ban hợp tác Kinh tế và Công nghệ, nhằm giúp châu Phi học tập kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc.

Tuần trước, Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc Giả Khánh Lâm cũng vừa thăm châu Phi và riêng tại Cameroon, đã khai trương một nhà máy sản xuất xe bus có vốn đầu tư 500 triệu USD. Vốn đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi hiện đã lên đến 13,3 tỷ USD với hơn 16 nghìn doanh nghiệp Trung Quốc đang làm ăn tại châu lục này.

Trong khi đó, các doanh nghiệp Ấn Độ cũng hướng tới mục tiêu đầu tư dài hạn tại châu Phi. Tập đoàn Tata của Ấn Độ đi tiên phong trong đầu tư vào châu Phi từ những năm 1960 và mới đây đã đổ thêm 1 tỷ vốn đầu tư vào các dự án sản xuất xe bus tại Kenia, Zambia và Angeri. Tập đoàn viễn thông Ấn Độ là Barthi Telecom cũng vừa mua lại mạng di động của hãng Zayn (Qata), tại 17 nước châu Phi. Trong kho hãng dược phẩm Reddys Lab cũng đang mở rộng kinh doanh ở “lục địa đen”.

Các doanh nghiệp của Brazil cũng không muốn là người đến sau ở châu Phi. Hiện nay, Tập đoàn WEG của nước này đang đẩy mạnh bán thiết bị điện ở 20 nước châu Phi; trong khi các hãng khác như Marcopolo sản xuất xe bus ở Nam Phi; Odebrecth thực hiện các công trình xây dựng ở Namibia, Angola và xây dựng hạ tầng ngành mỏ, đường sắt, văn phòng và siêu thị ở Mozambique...

Châu Phi vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư

Hiện nay, xây dựng cơ sở hạ tầng ở châu Phi là lĩnh vực có tiềm năng lớn thu hút các nhà đầu tư tại các nước mới nổi. Tại diễn đàn đầu tư châu Phi lần thứ 7 diễn ra tại Accra (Ghana), Tổng giám đốc Tập đoàn CDC Sarl (Anh) Richard Laing cho biết, châu Phi cần mỗi năm 93 tỷ USD để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tốt nhất cho sự phát triển kinh tế của châu lục. Trong khi, hiện nay, số tiền đầu tư 45 tỷ USD mỗi năm dành cho phát triển cơ sở hạ tầng tại châu Phi là chưa đủ, và còn kém xa so với số tiền của tất cả các thị trường mới nổi.

Đặc biệt, khu vực châu Phi ở phía Nam sa mạc Sahara đứng sau so với tất cả các nước có thu nhập thấp khác về phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng năng lượng. Khu vực này, với hơn 700 triệu dân, nhưng sản xuất năng lượng ít hơn cả Nauy, nước có dân số chưa đầy 5 triêu người.

Tỷ lệ sử dụng điện tại châu Phi chỉ là 26%, so với mức trung bình là 68% ở những thị trường mới nổi khác. Các chuyên gia nhận định, với nhu cầu về dầu mỏ và nguyên liệu ngày càng tăng, Trung Quốc và Ấn Độ đang sẵn sàng tăng đầu tư của họ vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở tại châu Phi.

Bất chấp những khó khăn do khủng hoảng kinh tế, với tiềm năng to lớn và nguồn nguyên liệu dồi dào, châu Phi vẫn đang là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong năm 2010 này. Ngoài 3 nước mới nổi là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, nhiều nhà đầu tư từ các nước đang phát triển khác cũng đang chú trọng tìm cơ hội đầu tư ở châu Phi.

Hội thảo Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (CNUCED) mới đây nhận định, viễn cảnh đầu tư vào “lục địa đen” vẫn còn nhiều hứa hẹn. Dù khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng dòng vốn đầu tư vẫn tiếp tục đổ vào châu Phi với nhiều dự án mới.

Châu Phi “khát” điện hạt nhân



Không nằm ngoài xu hướng phát triển năng lượng của thế giới, châu Phi - lục địa đen đang trỗi dậy - đang hướng về nguồn năng lượng điện hạt nhân nhằm thỏa mãn “cơn khát” năng lượng.

Hiện nay, năng lượng gió và năng lượng mặt trời không đáp ứng đủ nhu cầu của hàng chục triệu người dân châu Phi, nhất là tại 10 quốc gia đang có đà tăng trưởng kinh tế cao, trong số đó có Nam Phi, Senegal, Uganda, Nigeria…

Trong quá trình tập trung thực hiện cải cách chính trị, phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh liên kết khu vực cũng như quốc tế để khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu, lục địa đen phải đối mặt nhiều thử thách về kinh tế và xã hội, bao gồm tình trạng thiếu điện, thiếu nguồn cung cấp nước sạch. Senegal là một trong những quốc gia đã đặt mục tiêu phát triển năng lượng điện hạt nhân lên hàng đầu. Trong một cuộc hội thảo về năng lượng tại Pháp diễn ra vào cuối tháng trước, Senegal đã không ngần ngại tuyên bố kế hoạch phát triển nguồn năng lượng mới dựa vào nguồn điện hạt nhân từ nay cho đến năm 2020.

Trong số 10 quốc gia châu Phi khát năng lượng, Nam Phi là quốc gia đi đầu trong việc phát triển năng lượng điện hạt nhân khi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng hai lò phản ứng điện hạt nhân, giải quyết được phần lớn nhu cầu tiêu thụ điện năng trong nước.

Nigeria cũng tỏ ra không thua kém khi tìm cách chạy nước rút để phát triển điện hạt nhân. Nước này đang tiến hành đàm phán với Iran, thảo luận kế hoạch xây dựng một nhà máy điện hạt nhân. Uganda đã thông qua dự luật phát triển điện hạt nhân vào năm 2008, đặt hy vọng sẽ phát triển kế hoạch vào năm 2020. Trong khi Chính phủ Kenya cũng đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư 1 tỷ USD từ nước ngoài để phát triển điện hạt nhân. Các nước khác như Algeria, Ghana, Niger cũng đang “rục rịch” cho các kế hoạch tương tự. Trên thực tế, năng lượng vẫn là vấn đề rất khó giải quyết tại các nước châu Phi. Thiếu cơ sở vật chất, nhân công không có trình độ kỹ thuật cao càng gây thêm nhiều trở ngại đối với việc phát triển năng lượng điện hạt nhân tại các nước này. Tuy nhiên, tiềm năng của châu Phi hiện nay rất lớn, vì thế, khi châu Phi bày tỏ ý định phát triển nguồn năng lượng điện đã có một số quốc gia lên tiếng ủng hộ như Pháp, Nga, Hàn Quốc… Tuy nhận được sự hậu thuẫn từ các quốc gia phát triển, được chính phủ bật đèn xanh nhưng không phải hầu hết những người dân châu Phi đều ủng hộ những kế hoạch này. Số người phản đối cho rằng đây là một kế hoạch lãng phí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người vì các nhà máy điện hạt nhân tạo ra chất thải phóng xạ gây chết người.

Trong khi đó, những người ủng hộ, đặc biệt là các nhà khoa học, cho rằng chất thải phóng xạ không phải là một điểm yếu mà là một đặc thù của năng lượng hạt nhân. So với lượng thải khổng lồ của nhiên liệu hóa thạch vào khí quyển, lượng chất thải hạt nhân là nhỏ, không đáng kể và có thể cất giữ mà không gây nguy hại cho con người cũng như môi trường.

Ủng hộ và chống đối vẫn là hai cực trái chiều trong việc phát triển năng lượng điện hạt nhân tại nhiều quốc gia và châu Phi không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhưng nếu sự tranh cãi này vẫn còn xảy ra gay gắt, nhiều khả năng châu Phi phải cân nhắc rất nhiều để có thể giải quyết bài toán khát năng lượng trong thời gian tới.

Doanh số bán lẻ của New Zealand tăng 0.8%



Doanh số bán lẻ của New Zeland (tháng 11) tăng tháng thứ 4 liên tiếp, làm tăng thêm dấu hiệu kinh tế hồi phục mạnh trong quý cuối của năm 2009.

Doanh số bán lẻ đã tăng 0.8% từ tháng 10, Văn phòng Thống kê New Zealand cho biết ở Wellington hôm nay. Doanh số bán lẻ không tính ngành ô tô cũng có mức tăng tương tự.

Chỉ số niềm tin tiêu dùng cải thiện, lượng người nhập cư gia tăng và thị trường nhà ở sôi động đang kích thích chi tiêu khi kinh tế tăng trưởng trở lại từ cơn suy thoái tồi tệ nhất trong 3 thập niên. Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Alan Bollard cho hay trong tháng trước có thể tăng tỷ lệ lãi suất chuẩn từ mức thấp kỷ lục 0.25% vào giữa năm 2010 khi kinh tế hồi phục mạnh.

“Đó là kết quả rất khả quan”, Adam Carr, trưởng chuyên gia kinh tế thuộc ICAP Australia Ltd. ở Sydney chia sẻ. “Chúng ta có thể tự tin để nói rằng kinh tế đang trên đà hồi phục mạnh mẽ. Ngân hàng Trung ương New Zeland sẽ tăng lãi suất vào tháng 4”.

Đô la New Zealand tăng lên 72.17 U.S. cents lúc 10:50 giờ Wellington từ 71.97 cents ngay trước khi báo cáo công bố.

Theo dự đoán trung bình của 12 chuyên gia kinh tế trong khảo sát của Bloomberg, doanh số bán lẻ tăng 0.5% trong khi đó dự đoán cho doanh số bán lẻ không tính ngành ô tô với mức tăng 0.3%.a

Úc thiếu lao động lành nghề



Úc thiếu lao động lành nghề trầm trọng. - tinkinhte.com
Úc thiếu lao động lành nghề trầm trọng. Ảnh: Vogue

Úc đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động lành nghề trầm trọng trong năm nay. Sự thiếu hụt này đe dọa tới kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng hiện nay của chính phủ Úc.

Trong thời kỳ khủng hoảng, số lượng nhân công lành nghề tại Úc về cơ bản được đáp ứng đầy đủ. Nhưng trong 3 tháng cuối năm 2009, tình trạng thiếu lao động lành nghề có xu hướng gia tăng, với 17/20 ngành nghề thiếu hụt lao động có kỹ năng.

Theo nghiên cứu của công ty tuyển dụng lao động Clarius (Úc) công bố ngày 1-2, các lĩnh vực thiếu hụt lao động lành nghề bao gồm xây dựng, kinh doanh, thợ mộc, bác sĩ, y tá, đầu bếp và các nhân viên trong các ngành dịch vụ…

Theo Hiệp hội xây dựng Úc, hiện lao động ngành xây dựng thiếu tới 60.000 vị trí và có thể tăng lên 65.000 trong năm 2012.

Sự thiếu hụt lao động có kỹ năng tại Úc đang trở nên nghiêm trọng hơn do dân số ngày một già đi, trong khi lực lượng lao động trẻ chưa đủ đáp ứng nhu cầu công việc.

Kinh tế Australia tăng trưởng mạnh năm 2009



tinkinhte.com
Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
Số liệu chính thức của Australia công bố ngày 3/3 cho thấy nước này đã vượt qua cuộc suy thoái toàn cầu đầu tiên kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, với mức tăng trưởng trong năm 2009 đạt 2,7%.

Nhờ hàng loạt các biện pháp kích thích kinh tế của chính phủ cùng việc bán hàng sang Trung Quốc tăng mạnh, trong quý IV năm 2009, Australia đã đạt mức tăng trưởng 0,9%, là mức tăng nhanh nhất kể từ tháng 3/2008, thời điểm trước khi xảy ra cuộc suy thoái toàn cầu.

Sự tăng trưởng mạnh này giúp Australia duy trì được bốn quý tăng trưởng liên tiếp, bất chấp sự sụp đổ kinh tế toàn cầu lớn nhất kể từ thời kỳ Đại Suy thoái khiến kinh tế thế giới suy giảm 0,8% trong năm qua.

Bộ trưởng Tài chính Australia Wayne Swan nhận xét trong bối cảnh xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu tồi tệ nhất trong 75 năm qua, với hầu hết các nền kinh tế tiên tiến đều suy giảm mạnh, kinh tế Australia không những tiếp tục tăng trưởng mà còn tăng trưởng một cách chắc chắn.

Ông cũng dự báo Australia sẽ sớm đạt mức phát triển cao sau khi ngân hàng trung ương nước này ổn định nhân sự trong những năm tới.

Kết quả tăng trưởng trong năm 2009 của Australia cao hơn mức dự báo 2,3% của các nhà phân tích.

Năm 2009, kinh tế Mỹ giảm 2,4%, trong khi Đức và Nhật Bản cùng giảm 5%./.

Bùng nổ các dự án khí đốt khổng lồ ở Australia



Ở bang Tây Australia hoang mạc đang bừng tỉnh với bầu không khí sôi sục chẳng khác gì phong trào tìm vàng trong thế kỷ 19; Khí đốt từ mỏ Gorgon có thể đạt giá trị 286 tỷ USD trong vòng 20 năm tới và đây mới chỉ là một dự án.

Ảnh minh họa

Nền kinh tế Australia hiện là một trong số những nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Để có được thành tựu hôm nay, Australia đã trải qua các thời kỳ phát triển dựa vào các nguồn tài nguyên khoáng sản là vàng, than đá, quặng sắt và bây giờ sắp đến đến thời kỳ hưng thịnh của khí đốt.

Các dự án đang được triển khai nhằm khai thác các mỏ khí đốt lớn ở ngoài khơi vùng biển phía Tây Bắc Australia có thể làm tăng gấp 4 lần lượng khí thiên nhiên hoá lỏng xuất khẩu của nước này trong vài năm tới và biến Australia trở thành một "siêu cường năng lượng" như Bộ trưởng Tài nguyên nước này đã tuyên bố.

Giới phân tích cho rằng giai đoạn bùng nổ tiếp theo của Australia sẽ kéo dài, góp phần làm hưng thịnh hơn nữa cho Australia và biến nước này thành một nhà cung cấp chủ chốt nhiên, nguyên liệu thô, vốn đang thúc đẩy sự phát triển của châu Á - từ cốt thép trong các toà nhà chọc trời ở các thành phố lớn tới nhiên liệu thắp sáng các toà nhà này.

Thủ hiến bang Tây Australia, nơi được cho là đóng vai trò trung tâm trong sự bùng nổ mới của kinh tế Australia, ông Colin Barnett tuyên bố: "Chúng ta có những gì mà thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng ở châu Á thèm muốn, đó là quặng sắt, năng lượng và khoáng sản".

Bang Tây Australia với diện tích phần lớn là hoang mạc đang bừng tỉnh với bầu không khí sôi sục chẳng khác gì thời kỳ nổ ra phong trào đổ xô đi tìm vàng trong thế kỷ 19. Làn sóng người nhập cư khiến dân số khu vực này tăng gần gấp 3 chỉ trong vòng một thập kỷ.

Với tư cách là nguồn cung cấp chủ yếu các nguyên vật liệu phục vụ cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế Châu Á, Australia ngày càng bị lôi cuốn vào quỹ đạo của các nền kinh tế khổng lồ đang nổi lên là Trung Quốc và Ấn Độ.

Khí đốt được phát hiện ở vùng ven biển Tây Bắc Australia từ những năm 1970. Nhưng việc khai thác khí đốt ở đây bị tụt hậu sau hoạt động khai thác quặng sắt và than, bởi kỹ thuật khai thác than và quặng sắt dễ dàng hơn và khi đó nhu cầu đối với các tài nguyên này cũng lớn hơn. Nhưng hiện nay, việc sử dụng khí đốt đã trở nên phổ biến hơn với tư cách là một nhiên liệu sạch thay thế than trong sản xuất điện, ít thải ra các chất khí gây hiệu ứng nhà kính.

Sự bùng nổ mạnh nhất trong lĩnh vực khai thác khí đốt diễn ra vào tháng 9/2009 khi Tập đoàn Chevron cùng với các đối tác liên doanh ExxonMobil và Royal Dutch Shell tuyên bố họ sẽ xúc tiến triển khai dự án khai thác mỏ khí đốt lớn Gorgon. Theo đó, liên doanh này sẽ tiến hành khoan các mỏ khí đốt ở ngoài khơi cách bờ biển khoảng 80 dặm (130 km) nhằm khai thác trữ lượng khí đốt ước tính khoảng 40.000 tỷ feet khối (khoảng trên 1.000 tỷ m3), xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí và nhà máy hoá lỏng khí và cảng biển với nguồn kinh phí khoảng 43 tỷ AUD (41 tỷ USD).

Quyết định trên được đưa ra sau khi các tin tức cho biết tập đoàn ExxonMobil Corp. đã ký hợp đồng cung cấp cho tập đoàn PetroChina Co. (Trung Quốc) khí đốt khai thác từ mỏ Gorgon trong thời gian 20 năm trị giá khoảng 50 tỷ AUD. Ngoài ra, các bên hữu quan còn ký các hợp đồng cung cấp khí đốt tương tự từ mỏ Gorgon cho các đối tác là các công ty điện lực của Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ, trị giá khoảng 70 tỷ AUD.

Chính phủ Australia cho biết xuất khẩu khí đốt thiên nhiên khai thác từ mỏ Gorgon có thể đạt giá trị 300 tỷ AUD trong vòng 20 năm tới và đây mới chỉ là một dự án. Các nguồn tin cho biết ít nhất còn khoảng nửa tá dự án khí đốt lớn khác đang trong quá trình triển khai, trong đó có dự án của công ty Woodside, với kinh phí 12 tỷ AUD, nhằm khai thác mỏ khí thiên nhiên Browse với trữ lượng ước tính khoảng 20 nghìn tỷ feet khối.

Các khu vực đô thị ít ỏi của bang Tây Australia đang thay đổi từng ngày bởi sự bùng nổ của hoạt động khai mỏ, cho dù phải mất 5 tiếng đồng hồ để bay từ Sydney vượt qua vùng hoang mạc tới Perth, thủ phủ của bang. Thành phố này cũng không xây dựng kịp khách sạn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và nằm rải rác khắp thành phố là các toà nhà văn phòng đang xây dựng dở dang với các cần cẩu vươn lên bầu trời.

Chính phủ Australia đang tìm cách bổ sung vào sự thiếu hụt lao động, dự kiến khoảng 70.000 công nhân xây dựng trong ngành khai thác tài nguyên trong thập kỷ tới. Trong đó, việc nhanh chóng cấp thị thực cho lao động nhập cư lành nghề, có thể từ châu Á và Trung Đông, là một phương án quan trọng đang được cân nhắc một cách nghiêm túc.

Người dân Australia chuộng Singapore Airlines



Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
Theo kết quả khảo sát của mạng khảo sát khách hàng Choice, người dân Australia chọn Singapore Airlines là hãng hàng không quốc tế được yêu thích nhất tại nước này.

Trong khi đó, Qantas và Jetstar - hai hãng hàng không nội địa của Australia, lại bị đánh giá là "tồi tệ nhất."

Hơn 9.000 thành viên thuộc Choice đã đưa ra câu trả lời sau khi hoàn thành phần đánh giá liên quan tới 10 hạng mục, bao gồm giá vé, dịch vụ trên chuyến bay như giải trí, chỗ ngồi thoải mái, ghế ngồi để chân, chất lượng đồ ăn, thời gian bay, nơi để hành lý và thủ tục bay... trên các chuyến bay từ Australia tới 12 nước khác tại châu Âu, Mỹ, châu Á và New Zealand. Thang điểm chấm tối đa cho các phần là 100.

Singapore Airlines dẫn đầu với mức độ "hài lòng" gần như tuyệt đối, mức điểm tổng cộng đạt 81/100, trong đó dịch vụ trên chuyến bay đạt 86 điểm.

Về giá cả, các hãng hàng không AirAsia, chuyến bay tới Malaysia và Mỹ được đánh giá là có giá cả hợp lý nhất.

Đường bay từ Australia tới Anh, vốn được coi là có sức quyến rũ lớn nhất với hành khách, thì đối tác của Qantas là British Airways bị chỉ trích là hãng hàng không "tồi tệ nhất." Họ chỉ đạt được điểm trung bình 57, trong đó dịch vụ trên chuyến bay thì "khá hơn" với 60 điểm và phi hành đoàn được mô tả là những người "thô lỗ và bảo thủ."

Tuy nhiên, một sự an ủi nhỏ đối với các hãng hàng không Australia là Virgin Blue, trong đường bay tới Mỹ, có tỷ lệ điểm gần sát Singapore Airlines (80/81), trong đó điểm cho giá vé của Virgin thậm chí còn cao hơn (88/72).

Tại châu Á, Singapore Airlines tiếp tục dẫn đầu, đặc biệt trên các chuyến bay tới khu nghỉ mát Bali của Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Hongkong và Nhật Bản.

Ngay sau khi kết quả trên được công bố, đại diện của Jetstar, ông Simon Westaway, cho rằng khảo sát của Choice chỉ là một trong những ý kiến của khách hàng, không phản ánh khách quan toàn diện.

Trong khi đó, Qantas nhấn mạnh kết quả khảo sát khách hàng của riêng họ đạt mức độ "thỏa dụng" cao hơn nhiều so với Choice và xu hướng luôn tăng cao trong thời gian qua. Cho tới thời điểm này, British Airways vẫn chưa đưa ra bình luận gì về kết quả của Choice./.